1 Star2 Stars3 Stars4 Stars5 Stars (1 votes, average: 5,00 out of 5)
Loading...
Chia sẻ:

Cùng tìm hiểu về các nguyên nhân, triệu chứng của bệnh mạch vành

Bệnh động mạch vành là do hẹp hoặc tắc động mạch hoặc sự cung cấp máu nuôi cơ tim bị hạn chế, hẹp động mạch thường do mảng bám, sự tích tụ cholesterol ở thành mạch máu,…

Cùng tìm hiểu về các nguyên nhân, triệu chứng của bệnh mạch vành

Cùng tìm hiểu về các nguyên nhân, triệu chứng của bệnh mạch vành

Nguyên nhân nào gây bệnh mạch vành?

Giảng viên Nguyễn Thị Hồng giảng dạy Văn bằng 2 Cao đẳng Dược cho biết những nguyên nhân gây bệnh mạch vành như sau:

  • Những bệnh nhân hút thuốc, đái tháo đường, huyết áp và cholesterol  hay mức độ chất béo cao dễ phát triển bệnh mạch vành.
  • Trái tim có ba nhánh mạch vành chính. Bệnh nhân có khi bị hẹp một, hai hoặc cả ba nhánh. Khi các mạch vành bị thu hẹp nhiều, bệnh nhân có thể phát triển các triệu chứng như đau ngực hoặc khó thở. Trong thuật ngữ y học, tình trạng này được gọi là chứng đau thắt ngực.
  • Các mảng bám cholesterol gây ra tắc nghẽn đôi khi có thể bị vỡ đột ngột, hình thành một cục máu đông. Cục máu đông này sẽ cắt nguồn cung cấp máu và gây thiệt hại cho cơ tim. Điều này gây nên nhồi máu cơ tim, thường được gọi là một “cơn đau tim”. Các bệnh nhân có thể  cảm thấy đau ngực dữ dội, khó thở, hồi hộp, chóng mặt, bàn tay đầy mồ hôi lạnh, thậm chí đột tử.
  • Mức độ nghiêm trọng và tiên lượng của các cơn đau tim phụ thuộc vào tỷ lệ phần trăm của cơ tim bị hư hỏng. Cơn đau tim nhẹ thường có thể hồi phục. Các cơn đau tim nặng hơn có thể dẫn đến suy tim lâu dài, làm tim giãn nở, nhịp tim bất thường, rò rỉ van tim và thậm chí tử vong.

Triệu chứng thường gặp của bệnh mạch vành là gì?

Cảm giác thường thấy ở ngực, nhưng đôi khi cũng xuất hiện ở vai trái, cánh tay, cổ, lưng hoặc ở hàm. Ngoài ra, còn có các triệu chứng khác bao gồm: thở gấp, tim đập nhanh, nhịp tim nhanh hơn, mệt yếu, chóng mặt, buồn nôn hoặc đổ mồ hôi.

Có những phương pháp nào được áp dụng để điều bệnh mạch vành?

Việc điều trị bệnh mạch vành phụ thuộc vào mức độ của bệnh và các triệu chứng của bệnh nhân.

  1. Thay đổi lối sống

  • Ăn uống lành mạnh và cân bằng, với nhiều rau quả hoặc trái cây có vai trò rất quan trọng. Thực phẩm giàu chất béo giúp bão hòa, có thể dẫn đến mức cholesterol cao, thành phần chủ yếu của mảng bám gây hẹp động mạch tim.
  • Thường xuyên tập thể dục đóng một vai trò quan trọng trong việc giữ trái tim khỏe mạnh. Tập thể dục giúp chúng ta trở nên thon gọn và xây dựng một hệ thống tuần hoàn mạnh mẽ hơn. Nó cũng giúp chúng ta giảm cân. Béo phì không tốt vì dẫn đến tăng huyết áp, đái tháo đường, và mức độ lipid cao, tất cả đều có thể gây tổn thương cho các động mạch tim.
  1. Kiểm soát các yếu tố nguy cơ chính của bệnh mạch vành

Hút thuốc, mức cholesterol cao, và huyết áp cao là 4 yếu tố chính dẫn đến nguy cơ cao của bệnh động mạch vành.

Kiểm soát tốt 4 yếu tố nguy cơ chủ yếu thông qua thay đổi lối sống hoặc dùng thuốc có thể giúp ổn định việc hình thành mảng xơ vữa động mạch, và giảm nguy cơ biến chứng cơn đau tim.

Hiện nay đã có rất nhiều những phường pháp phòng và điều trị bệnh mạch vành

Hiện nay đã có rất nhiều những phường pháp phòng và điều trị bệnh mạch vành

  1. Y khoa trị liệu

Có nhiều loại thuốc hữu hiệu cho bệnh nhân bị bệnh mạch vành. Các loại thuốc thông dụng gồm:

  • Aspirin / clopidogrel / Ticlopidine: Những thuốc này làm loãng máu và làm giảm khả năng huyết khối, hình thành trong các động mạch tim bị hẹp, do đó giảm nguy cơ đau tim.
  • Beta-blockers (ví dụ như atenolol, Bisoprolol, Carvedilol): Các loại thuốc này giúp giảm nhịp tim và huyết áp, làm giảm các triệu chứng đau thắt ngực và bảo vệ tim.
  • Nitrat (ví dụ. Isosorbide Dinitrate): Những thuốc này hoạt động giúp mở thông các động mạch tim, và do đó cải thiện lưu lượng máu tới nuôi cơ tim và làm giảm các triệu chứng đau ngực. Một dạng nitrat tác động tức thời, Glyceryl Trinitrate, là thuốc viên hay xịt đặt dưới lưỡi, thường được sử dụng để chận đứng cơn đau ngực.
  • Thuốc ức chế chuyển hóa Enzyme Angiotensin (ví dụ. Enalapril, Perindopril) và hạn chế tiếp nhận Angiotensin (ví dụ Losartan, Valsartan): Những thuốc này cho phép máu được bơm từ tim ra dễ dàng hơn, và cũng giúp hạ thấp huyết áp.
  • Thuốc hạ lipid (ví dụ Fenofibrate, Simvastatin, Atorvastatin, Rosuvastatin): Các loại thuốc này làm giảm “cholesterol” xấu (Low-Density Lipoprotein), là một trong những nguyên nhân chính của bệnh động mạch vành tiến triển hoặc mới khởi phát. Những thuốc này là chọn lựa ưu tiên trong điều trị bệnh mạch vành.
  1. Can thiệp mạch vành dưới da

Đây là phương pháp xâm lấn tối thiểu để mở một động mạch tim bị hẹp. Qua một bao nhựa đặt trong một động mạch ở háng hoặc cổ tay, một bong bóng có thể được chuyển tới đoạn động mạch tim bị hẹp, tại đó nó sẽ đươc bơm căng để nong đọan mạch hẹp.

Sau đó, một ống giá đỡ dạng dây lưới có thể được đưa vào để giúp giữ cho động mạch mở. Phương pháp này có thể cứu sống bệnh nhân bị một cơn đau tim cấp tính. Đối với bệnh mạch vành ổn định gây đau ngực, nó có thể giảm các triệu chứng đau thắt ngực rất hiệu quả. Với những bệnh nhân bị hẹp cả ba nhánh và suy giảm chức năng tim, tiến hành phẫu thuật được gọi là  bắc cầu động mạch vành thường là một phương pháp chữa trị tốt hay là chọn lựa tốt hơn.

  1. Phẫu thuật

Phẫu thuật bắc cầu mạch vành (CABG): Phẫu thuật bắc cầu mạch vành sử dụng một động mạch hoặc tĩnh mạch từ thành ngực, cẳng tay, hoặc chân để tạo một lộ trình mới cho máu chảy trực tiếp tới các cơ tim. Nó cũng giống như xây dựng đường cao tốc song song với đường nhỏ và hẹp.

Phẫu thuật này thường được thực hiện thông qua một vết mổ ở giữa ngực, và vết mổ ở đùi và cẳng tay (nếu dùng các động mạch từ cánh tay). Nhịp tim của bệnh nhân được tạm dừng và được thay thế bằng một máy trợ tim-phổi trong khi phẫu thuật.

 Đây là một phẫu thuật khá an toàn, với nguy cơ tử vong trung bình khoảng 2 phần trăm. Ở những bệnh nhân trước đó không có cơn đau tim và những người đã trải qua phẫu thuật bắc cầu mạch vành, các rủi ro có thể thấp tới 1 phần trăm.

Nguồn: Dược học Việt Nam

Share this post